Hiển thị các bài đăng có nhãn Thể loại tác phẩm. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Thể loại tác phẩm. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 6 tháng 10, 2016

GIỚI THIỆU THỂ THƠ SONNET - XÔNÊ - HÌNH THỨC, BỐC CỤC, CÁCH GIEO VẦN, ĐẶC ĐIỂM NỘI DUNG TƯ TƯỞNG... - MINH HỌA BẰNG TÁC PHẨM TỰ SÁNG TÁC

1. Đặc điểm của thể thơ Sonnet – Xônê:

Sonnet – Xônê tiếng Italia: soneto, có nghĩa là bài hát nhỏ. Tiếng Anh, tiếng Nga và hầu hết các thứ tiếng khác đều đọc là xônét, ở Việt Nam quen gọi theo tiếng Pháp là xônê; theo truyền thống, trong bài này chúng tôi để nguyên như vậy), với tư cách một thể thơ hoàn chỉnh xuất hiện vào thế kỉ thứ 13, người sáng tạo ra nó có lẽ là những nhà thơ Provence (Pháp) và được củng cố phát triển tới đỉnh cao nhất trong tác phẩm của các nhà thơ Italia vĩ đại thời Phục Hưng, là Ðăngtơ và Pêtrac. Nó là một thể thơ có niêm luật chặt chẽ cả về cấu trúc lẫn quy tắc gieo vần, và nhất thiết bao giờ cũng phải mười bốn câu.


Xônê cổ điển Italia được chia thành bốn khổ, hai khổ bốn câu và hai khổ ba câu, với hệ thống gieo vần như sau:

abba - abba - ccd - ede,
hoặc abab - abab - ccd - eed.

Ngoài ra còn có các cách phân bố vần như:

1) vần bằng phẳng: AA BB CC;

2) vần chéo: AB AB CDCD;

3) vần ôm: ABBA CDDC và

4) vần lặp (lặp lai ít nhất 3 lần: AAAB (LTP).

Trong khổ thứ nhất, mà ngay câu đầu tiên, tác giả phải trình bày chủ đề bài thơ, nghĩa là giới thiệu với người đọc những gì mình định nói, và chủ đề ấy sẽ được phát triển tiếp ở khổ thứ hai. Trong hai khổ ba câu còn lại, tác giả sẽ trình bày cách giải quyết vấn đề đã nêu ở hai khổ trên và những kết luận rút ra từ suy nghĩ của người viết.

Từ thế kỉ thứ 16, xônê bắt đầu lan sang các nước châu Âu khác, trong đó có Anh. Lúc đầu các nhà thơ Anh viết theo hình thức cổ điển Italia (nhiều bài đơn thuần chỉ là bản phỏng dịch các tác giả nước ngoài), nhưng dần dần họ tạo được cho mình một hình thức riêng, gọi là Xônê Anh, gồm ba khổ bốn câu (abab - cdcd - efef) và hai câu kết (gg). Sêcxpia đã viết các bài thơ xônê của mình theo cách phân khổ và gieo vần này, nên nó còn được gọi là thể thơ Xônê Sêcxpia.

Từ ngày ra đời đến nay, xônê đã trải qua nhiều thăng trầm trong sự phát triển và áp dụng thực tế vào sáng tác của nhiều nhà thơ đủ mọi thời đại và dân tộc. Ðã xuất hiện nhiều thay đổi, biến dạng trong kết cấu và hệ thống gieo vần. Thậm chí có nhà thơ còn viết xônê bằng thơ không vần, và từ rất nhiều các quy tắc nghiêm ngặt của xônê cổ điển, chỉ còn giữ lại vẻn vẹn một yếu tố hình thức là mười bốn câu trong một bài. Mặc dù bị gò bó và bị chi phối bởi những ràng buộc về hình thức và bố cục như vậy, qua thực tế sáng tác, xônê vẫn tỏ ra là một thể thơ có sức sống mãnh liệt, và cho đến nay, khi trong thơ và nghệ thuật nói chung đang có xu thế phá vỡ các khuôn mẫu cổ điển cũ để tìm những hình thức diễn đạt mới phù hợp với thời đại, nó vẫn được nhiều nhà thơ khắp nơi trên thế giới yêu thích, nhất là khi cần phải bộc lộ những khía cạnh trữ tình và triết lí trong suy nghĩ của người viết.

Cũng nên nói thêm là các nhà thơ xônê cổ điển còn xây dựng một hình thức thơ mới, gọi là Chùm xônê với những ràng buộc về hình thức còn chặt chẽ hơn, bao gồm mười lăm bài xônê Italia, câu đầu của bài sau phải là câu cuối của bài trước; và xônê cuối cùng, bài kết, gồm mười bốn câu đầu tiên của những bài còn lại theo thứ tự, trong khi xônê thứ mười bốn phải được bắt đầu bằng câu cuối và kết thúc bằng câu đầu của xônê thứ mười lăm! Ðây là một trong những hình thức thơ khó nhất, phức tạp và chặt chẽ nhất trong thơ có luật của châu Âu. Tuy thế, nhiều nhà thơ, kể cả các nhà thơ hiện đại, đã mạnh dạn viết và viết thành công thể thơ này.

2. Bài thơ: TÌNH ÁI CỦA MÙA ĐÔNG
                     (Sonnet – Xônê)

Đêm gió lạnh, sương dăng buốt giá
Tất cả tạo nên cái đặc trưng của mùa đông,
Những kẻ cô đơn càng thấm thía cái lạnh hơn,
Họ khát khao người tình như sưởi ấm phải có lửa.

Gió được tiếp thêm sức mạnh, càng lạnh lẽo về khuya
Nó cuốn lấy sương mà quất vào người đi đường,
Những thân hình run rẩy, bước đi như trốn chạy cái bóng,
Cái lạnh vây quanh, ai cũng muốn thật nhanh về nhà.

Như đôi tình nhân đang hân hoan mở cuộc ái ân
Sương nương theo gió, gieo lạnh khắp thế gian,
Mặt đất như bị đóng băng, giá rét tận hưởng lạc thú.

Qua cơn cuồng nộ, gió lắt lay, sương mỏng như hơi may
Không khí ấm dần, gió, sương tìm chốn ngủ,
Chúng chờ mùa đông mới khi mùa xuân đang đến đâu đây./.

(Hệ thống vần được gieo trong bài: ABBA – ABBA – CCD – EDE.)


Đây là thử nghiệm tôi viết cách nay 6,7 năm gì đó, nay nhân giới thiệu thể thơ thì dùng để minh họa. Có khiếm khuyết hoặc chưa được chuẩn thì mong các bạn lượng thứ và chỉ giáo thêm cho.
30/12/2014.
Tài liệu tham khảo và nguồn của các trích dẫn:

1) http://phebinhvanhoc.com.vn/bai-tho-nhung-con-meo-cua-baudelaire-phan-12/

2)http://www.thivien.net/William-Shakespeare/Sonnet/group-_2_KNqIhiUMk8s_AJgW7Nw

Những người quan tâm và am hiểu văn học thế giới đều biết: Phương Đông - Châu Á có Thơ Đường, còn Phương Tây - Châu Âu có sonnet - Xônê là hai thể thơ nổi tiếng và có sự ảnh hưởng, lan tỏa rộng rãi cũng như hàm chứa nhiều giá trị nghệ thuật và nội dung tư tưởng, nhân văn. Nó đạt tới một giá trị biểu trưng, nghĩa là nhiều khi người ta dùng hai thể thơ này để đại diện, thay thế cho cả hai nền thi ca của hai châu lục. Hay diễn đạt khác đi là, khi nói tới thơ ca của hai châu lục này ở quá khứ cho tới hiện đại, đôi khi người ta chỉ cần đề cập tới Thơ Đường và Sonnet - Xônê là đủ.

Mong nhận được sự góp ý và bổ sung từ những ai quan tâm tới bài viết.


Ảnh
Ảnh
Scrapbook Photos
1 ảnh - Xem album

Thứ Ba, 4 tháng 10, 2016

GIỚI THIỆU VỀ THỂ THƠ ĐƯỜNG LUẬT TÂN THANH ĐIỆU

THƠ ĐƯỜNG LUẬT TÂN THANH ĐIỆU được tạo ra với mong muốn gìn giữ và phát huy một giá trị nhân văn cao đẹp của dân tộc. Vì sự phát triển của Tiếng Việt ngày càng giàu và đẹp. (https://plus.google.com/u/1/communities/107125242697842386078)


Điểm khác biệt của THƠ ĐƯỜNG LUẬT TÂN THANH ĐIỆU là: Tiếng trắc được thay thế bởi tiếng có âm vực cao: Không dấu (thanh ngang); Ngã; Sắc. Và tiếng bằng được thay thế bởi tiếng có âm vực thấp: Huyền; Hỏi; Nặng. Những luật lệ khác vẫn giữ nguyên.  Có thể xem đây là một thử nghiệm dùng âm vực thay bằng, trắc của thanh điệu trong sáng tác thơ Đường luật.

Cũng xin nói thêm, luật bằng, trắc của thơ Đường luật thực chất là để tạo nhạc tính, sự du dương, hài hòa âm sắc, trầm bổng, luyến láy cho dòng thơ, bài thơ. Vì thế, dựa vào âm vực hoàn toàn có thể thỏa mãn và đáp ứng tốt yêu cầu đó.  Rất mong nhận được sự ủng hộ của các bạn yêu thơ. 


MẤY ĐẶC ĐIỂM CƠ BẢN CỦA THƠ ĐƯỜNG LUẬT KHI ÁP DỤNG THEO THANH LUẬT MỚI – TÂN THANH ĐIỆU.

VẦN (VẬN) – CƠ BẢN NHƯ CHÍNH THỂ THEO BẰNG TRẮC
CÁCH GIEO VẦN:
Có 5 vần gieo ở cuối câu đầu và các câu chẵn, nghĩa là cuối các câu 1, 2, 4, 6, 8.
Suốt bài thơ chỉ gieo một vần (một từ) gọi là độc vận.
LẠC VẬN VÀ CƯỠNG ÁP:
Làm thơ phải hiệp vận cho đúng. Nếu gieo sai như CÂY đi với HOA là lạc vận (lạc: rụng). Nếu vần gieo gượng thì gọi là cưỡng áp. Hai cách này đều không được cả.
2. ĐỐI - – CƠ BẢN NHƯ CHÍNH THỂ THEO BẰNG TRẮC
Những câu phải đối trong một bài thơ bát cú, trừ hai câu đầu, hai câu cuối, còn bốn câu giữa cứ hai câu đối nhau: 3 với 4; 5 với 6 (sẽ đề cập chi tiết hơn ở phần sau)
3. LUẬT
Là cách sắp đặt tiếng cao và tiếng thấp trong các câu của bài thơ. Luật nhất định buộc người làm thơ phải theo đúng mà đặt. Luật được chia ra LUẬT CAO VÀ LUẬT THẤP
LUẬT THẤP: Câu đầu tiên của bài thơ bắt đầu bằng hai tiếng thấp
a. Luật thấp vần thấp:
Câu 1: T T C C C T T (v)
Câu 2: C C T T C C T (v)
Câu 3: C C T T T C C
Câu 4: T T C C C T T (v)
Câu 5: T T C C T T C
Câu 6: C C T T C C T (v)
Câu 7: C C T T T C C
Câu 8: T T C C C T T (v)
b. Luật thấp vần cao
Câu 1: T T C C T T C (v)
Câu 2: C C T T T C C (v)
Câu 3: C C T T C C T
Câu 4: T T C C T T C (v)
Câu 5: T T C C C T T
Câu 6: C C T T T C C (v)
Câu 7: C C T T C C T
Câu 8: T T C C T T C (v)
LUẬT CAO: Câu đầu tiên của bài thơ bắt đầu bằng hai tiếng hai tiếng cao
a . Luật cao vần thấp:
Câu 1: C C T T C C T (v)
Câu 2: T T C C C T T (v)
Câu 3: T T C C T T C
Câu 4: C C T T C C T (v)
Câu 5: C C T T T C C
Câu 6: T T C C C T T (v)
Câu 7: T T C C T T C
Câu 8: C C T T C C T (v)
b. Luật cao vần cao
Câu 1: C C T T T C C (v)
Câu 2: T T C C T T C (v)
Câu 3: T T C C C T T
Câu 4: C C T T T C C (v)
Câu 5: C C T T C C T
Câu 6: T T C C T T C (v)
Câu 7: T T C C C T T
Câu 8: C C T T T C C (v)
(C: cao, T: thấp, v: vần, ngoài việc tuân theo luật cao – thấp, còn phải tuân theo vần)
4. THẤT LUẬT
Trong một câu thơ, theo "phân minh" chữ nào đáng là thấp mà đặt tiếng cao, hoặc đáng cao mà đặt tiếng thấp, thì gọi là thất luật (sai luật thơ), không được.
5. NIÊM
Niêm nghĩa đen là dính với nhau, là sự liên lạc âm luật của hai câu thơ trong một bài thơ Đường luật. Hai câu thơ niêm với nhau khi nào hai chữ đầu câu cùng theo một luật, hoặc cùng là thấp, hoặc cùng là cao, thành ra thấp niêm với thấp, cao niêm với cao. Trong một bài thơ bát cú, những câu sau đây niêm với nhau.
Ví dụ: Một bài thơ luật thấp vần thấp:
Câu 1 niêm với 8:
T T C C C T T
Câu 2 niêm với 3:
C C T T C C T
C C T T T C C
Câu 4 niêm với 5:
T T C C C T T
T T C C T T C
Câu 6 niêm với 7:
C C T T C C T
C C T T T C C
Câu 8 niêm với 1:
T T C C C T T
6. THẤT NIÊM
Trong một bài thơ, nếu cả hai câu thơ đặt sai luật, như đang bắt đầu thấp thấp đặt làm cao cao hoặc trái lại thế, làm cho tất cả câu thơ trong bài không niêm với nhau thì gọi là thất niêm (mất sự dính liền), không được.
7. BẤT LUẬN VÀ PHÂN MINH
Để cho khỏi gò bó, dễ sử dụng từ ngữ, trong bài thơ, chữ thứ 1, 3, 5 không cần theo đúng luật cao – thấp: Nhất tam ngũ bất luận (tuy nhiên để bài thơ có âm điệu hay thì chữ thứ 5 không nên theo lệ bất luận).
Những chữ thứ 2, 4, 6 buộc phải tuân theo đúng luật cao – thấp: Nhị tứ lục phân minh.
8. KHỔ ĐỘC
Nghĩa là khó đọc, đọc lên trúc trắc không được êm tai. Tuy theo lệ "bất luận" có thể thay đổi mấy chữ trong câu thơ, nhưng đáng cao mà đổi ra thấp thì bao giờ cũng được, chứ đáng thấp mà đổi ra cao thì trong vài trường hợp, sự thay đổi ấy làm cho bài thơ khổ độc.
Những trường hợp ấy là: Chữ thứ 3 các câu chẵn và chữ thứ 5 các câu lẻ đáng là thấp mà đổi ra cao là khổ độc .
9. CÁC BỘ PHẬN TRONG BÀI THƠ
Một bài thơ bát cú giống như bức tranh. Trong cái khung nhất định 8 câu 56 chữ, làm sao vẽ thành một bức tranh hoàn toàn, hình dung được ngoại cảnh của tạo vật hay nội cảnh của tâm giới. Bởi vậy phải sắp đặt các bộ phận cho khéo. Có bốn bộ phận là: Đề, Thực, Luận và Kết.
1- Đề thì có Phá đề (câu 1) là câu mở bài nói lung động cả ý nghĩa trong bài và Thừa đề (câu 2) là câu nối với câu phá mà nói đến đầu bài.
2- Thực, hay Trạng (câu 3-4): là giải thích đầu bài cho rõ ràng. Nếu là thơ tả cảnh thì chọn các cảnh sắc xinh đẹp đặc biệt mà mô tả ra, nếu là thơ tả tình thì đem các tình tự giãi bày ra; nếu là thơ vịnh sử thì lấy công trạng của người mình muốn vịnh mà kể ra.
3- Luận (câu 5-6): là bàn bạc. Nếu là thơ tả cảnh thì nói cảnh ấy xinh đẹp như thế nào; vịnh sử thì hoặc khen hoặc chê, hoặc so sánh người ấy, việc ấy với người khác việc khác.
4- Kết (câu 7-8) là tóm ý nghĩa cả bài mà thắt lại cho mạnh mẽ rắn rỏi, trong đó câu số 7 là câu Thúc ,hay Chuyển và câu 8 là câu Hợp.
**********************
II- PHÉP ĐỐI
Câu đối là các câu văn đi song song với nhau từng cặp.
Trong bài thơ Đường luật thất ngôn bát cú, bắt buộc phải có đối với nhau giữa các câu 3 và 4, câu 5 và 6.
Muốn câu đối chỉnh và cân, phép đối cần phải hội đủ 3 điều kiện:
- Đối thanh
- Đối ý
- Đối từ loại
1. ĐỐI THANH
-Bảng luật thấp:
T T C C T T C
C C T T C C T
-Bảng luật cao:
C C T T T C C
T T C C C T T
Chí ít là các chữ 2,4,6,7 phải theo đúng luật cao – thấp.
2. ĐỐI Ý
Ý câu trên và ý câu dưới, hoặc chống nhau, hoặc bổ sung ý nghĩa cho nhau.
3. ĐỐI TỪ LOẠI
Danh từ >< Danh từ
Danh từ riêng >< Danh từ riêng.
Danh từ chung >< Danh từ chung
Động từ >< Động từ.
Trạng từ >< Trạng từ.
Tính từ >< Tính từ.
Tính từ có nhiều loại, nên:
Gợi hình >< Gợi hình
Màu sắc >< Màu sắc
Mùi vị >< Mùi vị
Tượng thanh >< Tượng thanh
Số lượng >< Số lượng
Mùa tiết >< Mùa tiết
Phương hướng >< Phương hướng
Từ kép >< Từ kép
Từ đơn >< Từ đơn
Thành ngữ >< Thành ngữ
Biệt ngữ >< Biệt ngữ
Hán Việt >< Hán Việt
Nôm (thuần Việt) >< Nôm (thuần Việt)...
2 cặp đối trong thơ Đường luật là tinh hoa của bài thơ. Nó là đặc điểm chính để nhận biết một bài thơ Đường luật. Hai cặp đối này còn giúp đo lường trình độ làm thơ Đường luật của tác giả.
Một bài thơ thất ngôn bát cú mà không có 2 cặp đối ở Thực và Luận thì không phải là một bài thơ Đường luật.

Chú thích hình ảnh:
Hình 1 (H1) – Bảng thanh điệu tiếng Việt phân loại theo âm vực cao – thấp
Hình 2 (H2) – Thanh điệu trong tiếng Việt
Hình 3 (H3) – Tóm tắt toàn bộ thanh điệu tiếng Việt.


ẢnhẢnh
Ảnh
2015-01-23
3 ảnh - Xem album