Hiển thị các bài đăng có nhãn Án Văn Chương. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Án Văn Chương. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 19 tháng 3, 2017

NHÂN VĂN - GIAI PHẨM: NHỮNG NHẦM LẪN CỦA GIỚI NGHIÊN CỨU VỀ MỘT PHONG TRÀO SÁNG TẠO CỦA NHỮNG VĂN NGHỆ SĨ TRƯỚC NĂM 1975 Ở MIỀN BẮC

(...TIẾP THEO Phần 1)

2. BỐI CẢNH XÃ HỘI CỦA PHONG TRÀO NHÂN VĂN - GIAI PHẨM

Khi mà xã hội thông thoáng tư tưởng hơn, và các nguồn tư liệu, kiến thức, các quan điểm xã hội và nhân văn, triết học, tiến bộ ngày càng được phổ biến, truyền bá và du nhập vào Việt Nam. Các văn nghệ sĩ đã có nhiều những cải cách và biến tấu, sáng tọa mới trong văn học nghệ thuật. Đã có những nhóm và những cá nhân, phong trào sáng tác, nghiên cứu, trao đổi học thuật và đề xuất lý luận, triết học. Bối cảnh xã hội đó tạo cho Nhân Văn - Giai Phẩm một thế và điểm tựa để nó hình thành, phát triển trở thành một phong trào có được sự quan tâm của xã hội. Ở khía cạnh sáng tác văn học nghệ thuật thì nó thực sự là một phong trào tiếp sức cho cuộc cách mạng văn chương mà anh em Hoài Thanh - Hoài Chân trong THI NHÂN VIỆT NAM gọi là cuộc cách mạng trong văn học với Thơ Mới là điểm nhấn quan trọng nhất. Bởi, với Thơ Mới, văn học Việt Nam đã căn bản thay đổi hoàn toàn.

Tôi nói Nhân Văn - Giai Phẩm mới chỉ là sự kế tiếp và thừa hưởng những thành tựa hay phát triển tiếp trên nền tảng mà Thơ Mới, cuộc cách mạng đầu thế kỷ 20 đã làm, tạo dựng được. Bởi vì, về thực chất, tất cả những sáng tác của các thành viên nhóm Nhân Văn - Giai Phẩm ở lĩnh vực văn học chưa thực sự tạo nên những giá trị mới, chưa thực sự có được những quan điểm nghệ thuật mới. Cái họ có và mới lại chính là những thực tế mới ở Miền Bắc Việt Nam khi mà chính quyền cộng sản đã và đang xây dựng chính quyền của nó, được đưa vào, thể hiện trong các sáng tác của họ.

Như vậy, Thơ Mới đưa đến cho văn học Việt Nam những nền tảng mà sau đó, có lẽ đến bây giờ, giới sáng tác vẫn đang đi trên con đường đó, và kế thừa nó. Nhân Văn - Giai Phẩm là sự kế tục, nhưng được giới nghiên cứu và quan điểm của những người làm văn nghệ cộng sản xem là Văn học Cách mạng. Có lẽ cái khái niệm, cách gọi tên thể hiện ý chí của chính quyền cộng sản nhiều hơn là những đóng góp mới của Nhân Văn - Giai Phẩm nói riêng và văn học cách mạng nói chung cho văn học nước nhà. Thực tế, bộ phận văn học cách mạng chỉ là lấy nội dung của cách mạng, của đảng cộng sản làm nội dung chính trong sáng tạo nghệ thuật. Và văn nghệ của đảng cộng sản Việt Nam hiểu một cách chân thực nhất chỉ có vậy.

Chúng ta cần thống nhất với nhau rằng: Đảng cộng sản Việt Nam là lực lượng duy nhất lãnh đạo cách mạng hay toàn dân Việt Nam, cho nên nó huy động mọi lực lượng để nắm toàn bộ các lĩnh vực của đời sống. Văn học nghệ thuật cũng chịu chung số phận, bản chất và cách thức tổ chức, điều hành của Đảng cộng sản Việt Nam dẫn tới sự độc tôn, độc tài trong mọi lĩnh vực. Đảng CSVN lãnh đạo văn học nghệ thuật, bởi vậy, lẽ dĩ nhiên, nó buộc bộ phận này, tức là giới sáng tác phải đi theo sự chỉ đạo, điều hành, hay như chúng ta vẫn thường diễn đạt là theo quan điểm của Đảng CSVN trong lĩnh vực văn học nghệ thuật - cả sáng tác lẫn lý luận, nghiên cứu, dịch thuật, xuất bản, báo chí, truyền hình, phát thanh, mạng xã hội (hiện nay) đến các cuộc thảo luận của các cá nhân, hội nhóm... Tất tật phải theo quan điểm của Đảng CSVN.
Nhân Văn - Giai Phẩm

Chính từ cái nguyên tắc Đảng lãnh đạo và không thể đi ngược lại hay có quan điểm, tư tưởng trái, ngược, đối nghịch hoặc mâu thuẫn, thù địch, không đúng, phù hợp với quan điểm của Đảng..., đã dẫn tới việc tất cả các cá nhân tham gia và liên quan tới Nhân Văn - Giai Phẩm bị đánh án. Có thể khẳng định đó là án chính trị trong văn học nghệ thuật. Một án chính trị theo nghĩa: những cán bộ, đảng viên, công - viên chức của Đảng CSVN vi phạm các điều cấm hay quan điểm của Đảng CSVN. Và mức vi phạm là trầm trọng, hoặc được cho là nghiêm trọng, cần phải được chỉnh huấn, cải tạo, để làm thay đổi suy nghĩ, để chấm dứt hẳn phong trào đó và không một ai trong số họ có cơ hội để nghĩ tới chuyện thực hiện tiếp hay đấu tranh tiếp để chống lại. Vì vậy phải xét xử và bắt phải tù đày, cải tạo như ở thời Cách mạng Văn hóa. Sự quyết tâm như vậy của Đảng CSVN còn là để tạo nên một tiền lệ mà những người đi sau khi nhìn thấy, nghe thấy hay bị khép vào tội danh đó đều phải sợ hãi. Người ta tránh xa, chấp nhận tất cả chỉ để không bị quy kết, bị đưa vào diện như những cá nhân trong nhóm Nhân Văn - Giai Phẩm.

Có vẻ như Đảng CSVN đạt được mục tiêu của mình, với một sự tàn bạo và thâm độc hết mức giành cho những trí thức, văn nghệ sĩ cùng chiến tuyến, người mình như trong vụ Nhân Văn - Giai Phẩm.

Thời điểm Nhân Văn - Giai Phẩm ra đời và phát triển thành một phong trào, là thời điểm mà Hồ Chí Minh, Đảng CSVN đang ra sức phổ biến một lượng lớn sách, tài liệu thuộc nhiều lĩnh vực của Trung Quốc ở Việt Nam. Nói đó là một cuộc "Hán hóa" ở thời kỳ mới có lẽ cũng không sai. Và lãnh đạo Đảng csvn muốn áp đặt hệ tư tưởng, quan điểm từ các sách, tài liệu của Trung Quốc vào Việt Nam, biến nó trở thành nguồn tư tưởng, văn hóa chủ đạo ở Việt Nam. Gần như tất cả các trí thức ở Miền Bắc lúc đó đều được huy động tham gia vào sự kiện này của Đảng csvn với nhạc trưởng thực sự là Hồ Chí Minh.

Cần thiết phải nhắc lại là, xã hội Việt Nam lúc đó vừa mới thoát ra khỏi những cuộc cải cách trên tất cả các lĩnh vực. Do đó, hầu hết các trí thức đều hiểu và biết phải tuân phục sự lãnh đạo của Đảng csvn. Nếu có ai đó cho rằng: có sự trung dung hay bất hợp tác với Đảng csvn là điều cần thiết phải gạt bỏ, đó chẳng qua là cái nhìn của những người ngoài cuộc và hậu bối, không thể hiểu hay biết được thực chất sự việc.

Nhân đây, người viết xin đưa một dẫn chứng của chính gia đình người viết để khẳng định điều này. Bên họ ngoại của người viết, tức bên dòng họ Nguyễn Thọ ở Nhân Thành, Yên Thành, Nghệ An, là họ của ông ngoại người viết, là một dòng họ có truyền thống học hành, thi cử và đỗ đạt vào bậc nhất ở đất Nghệ Tĩnh xưa. Dòng họ này tính từ thế kỷ 15, 16 tới thế kỷ 20, gần như ở thế hệ nào cũng có người đỗ cao, hầu hết là Thái Học Sinh - tức là đỗ đầu Tiến sĩ trong một kỳ thi. Đặc biệt, ở giai đoạn sau, thế kỷ 18, 19 còn có người đỗ Thái Úy - là đỗ đầu về quan võ. Trước đây chừng 6, 7 năm, tôi có đăng tải một bức ảnh chụp sơ đồ gia phả dòng họ, và đã có những chuyên gia Hán nôm vào khẳng định gia phả đúng. Ngay cả cán bộ của Sở Văn hóa Nghệ An cũng vào xác định và cho biết: về truyền thống đỗ đạt thì dòng họ Nguyễn Thọ - là họ bên ngoại của tôi - là dòng họ giàu truyền thống đỗ đạt nhất ở Nghệ An, và thực sự ngành văn hóa chưa tìm được một dòng họ nào ở Nghệ Tĩnh có thể sánh với dòng họ này. Về quan tước thì không - chưa có tư liệu để biết - có người làm chức cao, nhưng về đỗ đạt thì số một. Và theo lời kể của Bà Ngoại tôi - Phan Thị Cởn - thì ông ngoại tôi là một nạn nhân của Đảng csvn, ông là người tài giỏi, có uy tín, được Đảng csvn mời ra giúp đảng, làm quan nhưng ông từ chối và vì vậy bị đảng csvn hãm hại. Theo bà ngoại tôi thì khi ông ốm đã bị một cán bộ đảng cs lừa cho uống thuốc độc dẫn đến tử vong. Nguyên do là ông quyết không làm việc, hợp tác với Đảng csvn.

Từ câu chuyện này, tôi chỉ muốn khẳng định rằng: không có bất cứ một sự trung dung hay bất hợp tác, tuân phục nào dưới thời đảng csvn mà được dung thứ.

Dẫn chứng thứ hai là chuyện P.GS Phan Ngọc, theo tôi được biết thì chính P.GS Phan Ngọc là người phải cấp tốc xin lệnh tha, hoãn tử hình cha của mình: cụ Phan Võ từ Hà Nội về Nhân Thành, Yên Thành, Nghệ An để cứu cha đang bị giam chờ ngày xử tử. P.GS Phan Ngọc lúc đó là một cán bộ trong Quân đội. Và sau này thì cụ Phan Võ ra Hà Nội, được sự cho phép của Hồ Chí Minh đã chuyên tâm vào việc xây dựng và phát triển Y học cổ truyền, ông có thể được xem người có đóng góp quan trọng cho sự hình thành và phát triển ngành Y học cổ truyền ở Việt Nam dưới thời đảng csvn.
P.GS Phan Ngọc

Hai câu chuyện trên là dẫn chứng đủ sức thuyết phục rằng không có bất cứ một sự bất hợp tác, bất tuân hay trung dung, không phục vụ chế độ cộng sản nào mà người trí thức, quan lại cũ của phong kiến được tồn tại. Cộng sản diệt hết tất cả. Tất cả các trí thức, quan lại cũ - phong kiến hay thân pháp - đều chung số phận, họ chỉ có hợp tác, tuân phục hoặc xin được không phục vụ đảng csvn do sức khỏe kém. Còn nữa đều bị buộc phải phục vụ chế độ cs, đi ngược lại đều bị loại bỏ bằng nhiều cách hãm hại, tiêu diệt khác nhau. Chế độ đó không có bất cứ sự khoan dung nào, nhất là với những nhóm: trí, phú, địa, hào, quan hay thân Pháp.

Với cái bối cảnh như vậy thì Nhân Văn - Giai Phẩm hình thành và phát triển được thành một phong trào ngay ở đất Bắc, ở chính trong lòng chế độ và đang bị nhiều người cố tình diễn giải nó là một phong trào tiến bộ theo nghĩa là nó đòi hỏi tự do, dân chủ, tiến bộ, công bằng, nhân văn cũng như tự do tư tưởng, sáng tác, học thuật là điều không thể chấp nhận được. Vừa mới trải qua những biến cố như vậy, hầu hết các nhân vật trong Nhân Văn - Giai Phẩm hiểu hơn ai hết cái bản chất của chế độ. Họ có thể chơi dao hai lưỡi, nhưng đến mức như Nhân Văn - Giai Phẩm và hiểu theo cái nghĩa mà nhiều người muốn lái nó theo như trình bày ở trên và đã nói ở Phần 1 của bài viết này là điều phi lý. Có thể xem những người thuộc phong trào Nhân Văn - Giai Phẩm là thế hệ thứ 2, phần lớn họ đều hiểu những biến cố đã xảy ra với thế hệ trí thức, nhân kiệt ở thế hệ thứ nhất - 1- khi đảng csvn nắm quyền. Do đó, cái thực chất của phong trào hay nói đúng hơn là của một nhóm các nhân vật tạo nên, tham gia Nhân Văn - Giai Phẩm khác khá xa so với sự tưởng tượng, và có phần nào là quy chiếu theo suy nghĩ của nhiều người.

Tôi khẳng định có sự cố tình lái dư luận, sự hiểu biết của người ngoài cuộc lẫn thế hệ sau một cách có chủ đích đối với phong trào Nhân Văn - Giai Phẩm. Họ không né tránh bản án đã xử, cái án của các cá nhân bị xét xử hoặc bị hãm hại, trù dập, nhưng họ thấy cái tất yếu của sự tiến bộ, thấy khao khát của nhân dân, thấy rõ cái sai của Đảng csvn. Do đó, việc lái hay định hướng, chuyển phong trào Nhân Văn - Giai Phẩm theo xu hướng tiến bộ chung, hướng tới nhân dân, hướng tới sự chống đối đảng csvn là có thật.

Mấy năm trước, trước năm 2010, khoảng 2007, 2008, tôi có nói về việc P.GS Phan Ngọc, một người cùng thời, và cũng dính án chính trị, cũng có 20 năm úp mặt vào tường. Rồi cũng được chiêu tuyết, xoa dịu, cũng được mời ra làm Phó Thủ tướng Chính phủ của chính quyền Cộng sản. Từng được mời làm Phó Chủ tịch, Chủ tịch tỉnh Nghệ An nhưng ông từ chối. Một người như vậy tại sao không có tên, được đề cập tới và không tham gia hay liên quan, thuộc nhóm Nhân Văn - Giai Phẩm? Và thời đó, mấy trang mạng xã hội, có đôi tờ báo - giờ không nhớ rõ báo nào - và nhất là trang mạng Wikipedia, đã liên tục có những thay đổi, cắt bỏ rồi thêm bớt tên các thành viên tham gia Nhân Văn - Giai Phẩm, thay đổi nội dung, tính chất và đã bắt đầu hướng nó theo hướng mà nhân dân thực sự mong muốn, giới trí thức tiến bộ ủng hộ, đó là: đối nghịch với Đảng csvn. Họ có khi đưa tên P.GS Phan Ngọc vào danh sách các cá nhân tiêu biểu của phong trào Nhân Văn - Giai Phẩm, khi thì lại rút ra. Ngày nay, trên trang Wikipedia nội dung tiếng Việt về vụ việc này đã có phần nào trung thực hơn, Và P.GS Phan Ngọc không còn được đưa vào đó nữa.

Như vậy là đã có sự cố tình điều chuyển nhân vật và bản chất vụ việc Nhân Văn - Giai Phẩm để nó trở nên đẹp đẽ, gần gũi với nhân dân, xa rời đảng csvn. Đây là thời điểm mà vụ việc đang được xem xét lại, một vài cá nhân đã được phục hồi danh dự và được phổ biến lại các sáng tác của họ. Đang có một cuộc vận động để tất cả các cá nhân khác cũng được như vậy. Do đó, họ muốn làm cho phong trào này trở thành một vụ án có tính chất toàn dân, không phải là vụ việc riêng, nội bộ của đảng csvn. Tất cả những điều tôi trình bày ở đây đều là sự thật, và cá nhân tôi đến bây giờ vẫn muốn biết, người đứng sau giật dây vụ việc này ở thời điểm 2007, 2008 là ai, đảng csvn chủ trương hay là các thân hữu của những người bị án Nhân Văn - Giai Phẩm? Có thể hiểu được phần nào ý đồ của họ như diễn giải ở trên, nhưng còn có mưu ý gì nữa không thì phải để chính những người đó lên tiếng.

Tôi khái quát qua cái bối cảnh của Nhân Văn - Giai Phẩm, và cũng xin nhấn mạnh rằng, sự hô hào, kêu gọi trí thức ở thời điểm đó là nhằm mục đích thực hiện công cuộc phổ biến kiến thức, tri thức theo quan điểm của đảng csvn, và tài liệu, sách chủ yếu của Trung Quốc. Văn hóa và văn nghệ chỉ là một bộ phận của cách mạng Miền Bắc, của chủ trương xây dựng Xã Hội Chủ Nghĩa ở Miền Bắc, do đó, Nhân Văn - Giai Phẩm không thể là một biến tấu ghê gớm như có người mong muốn được. Nó bị dập tắt và trù dập, kết án vì nguyên do là vi phạm quy tắc, quan điểm của đảng lãnh đạo. Rút cục lại là ở chính cái quan điểm, chủ trương: Dân chủ và mở rộng dân chủ, phổ biến và phát triển nhân văn, tự do ... Phong trào Nhân Văn - Giai Phẩm đã chỉ làm công việc của nó: tuyên truyền cho đảng, vận động quần chúng cho đảng, ngợi ca đảng và cuộc cách mạng vĩ đại trên quê hương Miền Bắc. Nhưng sự quá đà của những người thuộc Nhân Văn - Giai Phẩm đã dẫn tới cái án tồi tệ. Họ không được giải thích, được sửa sai, vì chế độ không muốn có thêm bất cứ một sự lấn vạch nào nữa, phải trảm để răn đe, và ngăn ngừa, triệt tiêu hoàn toàn những người, nhóm có quan điểm, tư tưởng như Nhân Văn - Giai Phẩm.

Một điểm cần chú ý khác, người ta không chú ý tới việc cùng thời điểm với Nhân Văn - Giai Phẩm, đúng ra là trước khi đánh Nhân Văn - Giai Phẩm một khoảng thời gian ngắn, ở trong Quân đội cũng đã có một cuộc chỉnh huấn, thanh trừng. Nhiều cá nhân bị đấu tố, kết án, tước bỏ quyền, chức vụ, vị trí và bị cô lập. Sau khi dập tắt, ổn định tình hình ở trong Quân Đội, với những cá nhân có quan điểm y hệt nhóm Nhân Văn - Giai Phẩm, thì đảng csvn mới tiến hành trừng phạt, đánh, tiêu diệt hay triệt tiêu nhóm Nhân Văn - Giai Phẩm. Trình tự của vụ việc là như vậy. Và phía quân đội được đảng csvn lựa chọn xử lý trước, cũng có lý do là vì các nhân vật trong quân đội được một vài thành viên khởi xướng Nhân Văn - Giai Phẩm kêu gọi, đề nghị thực hiện một phong trào tương tự như Nhân Văn - Giai Phẩm trong quân đội, họ muốn lấy quân đội làm điểm tựa, là người tiên phong và đồng hành cùng. Như thể một thế lực để che chắn cho những nhân vật chủ trương Nhân Văn - Giai Phẩm ở ngoài quân đội. Và do đó, đảng csvn đã chỉnh huấn và ổn định trong Quân đội trước, rồi mới xử lý Nhân Văn - Giai Phẩm bên ngoài quân đội sau.

Tất cả các tài liệu hay công trình, những trang web, bài viết đề cập tới Nhân Văn - Giai Phẩm đều không biết hoặc không hề nhắc tới mối liên quan mật thiết giữa sự việc trong quân đội với nhóm Nhân Văn - Giai Phẩm. Và họ không thấy được rõ bối cảnh thực sự, những quan hệ chồng chéo, những vụ án trước và cùng với Nhân Văn - Giai Phẩm đã được đảng csvn thực hiện. Họ tách rời Nhân Văn - Giai Phẩm và nhiều người có chủ trương đưa sự việc Nhân Văn - Giai Phẩm theo một hướng khác với bản chất của nó đến với công chúng.
Công trình của tác giả Thụy Khuê

Đảng csvn thì sau thời kỳ đó, đã phải quay lại sử dụng nhiều người, tác phẩm của những cá nhân thuộc nhóm Nhân Văn - Giai Phẩm nên đã có chủ trương giảm nhẹ án, chiêu tuyết và phục hồi địa vị, quyền lợi cho họ. Cái này là do sự tàn bạo nên văn nghệ không thể phát triển, và những người dù bị xử án, trù dập nhưng họ lại đã từng là đảng viên, cán bộ của đảng csvn, tác phẩm của họ trước thời điểm bị kết án ít nhiều ngợi ca, liên quan tới đảng csvn, và đó lại là tác phẩm có giá trị hơn so với thế hệ sau, thế hệ cầm quyền là hậu duệ chủ yếu của bộ phận lãnh đạo cách mạng vô sản, bộ phận thủ tiêu gần như tất cả nguyên khí của đất nước, nên không thể có những sáng tạo nghệ thuật có giá trị, cũng như tư tưởng và triết học không thể có những cá nhân kiệt xuất. Đó là lý do đảng csvn phục hồi cho Nhân Văn - Giai Phẩm, trả lại tên tuổi và quyền lợi cũng như cho phép sử dụng, lưu hành các sáng tác, tư tưởng của nhóm. Dẫu vậy, về cơ bản, Nhân Văn - Giai Phẩm theo quan điểm cá nhân tôi, không có nhiều những đóng góp, điều này sẽ được thể hiện ở phần sau, phần cuối, một phần ngắn gọn nhưng sẽ giải quyết triệt để: Nhân Văn - Giai Phẩm thực chất có những gì và nó bị kết án vì cái gì.

Phần này chỉ gợi lại bối cảnh chính và sự vụ, đặc biệt đưa đến một sự kiện quan trọng là vụ việc Nhân Văn - Giai Phẩm trong quân đội, sự xử lý nó. Điều mà không mấy ai biết cũng như đề cập tới. Chuyện về P.GS Phan Ngọc không thuộc Nhân Văn - Giai Phẩm nhưng có lúc, có khi họ muốn đưa ông vào nhóm này như trên Wikipedia tiếng Việt những năm 2007, 2008 mà tôi đề cập tới ở phần trên.

3. 3.1. "Bẻ cung tên, giết chó săn" phải chăng là bản chất của vụ việc Nhân Văn - Giai Phẩm? 3.2. Giới hạn của tự do, dân chủ, nhân văn trong Đảng csvn lộ rõ từ vụ xử lý Nhân Văn - Giai Phẩm!

(Còn nữa...)

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

1. http://nghiencuuquocte.org/2013/10/03/su-kien-nhan-van-giai-pham/
2.https://vi.wikipedia.org/wiki/Phong_tr%C3%A0o_Nh%C3%A2n_V%C4%83n_-_Giai_Ph%E1%BA%A9m
3. http://www.rfa.org/vietnamese/SpecialTopic/Nhanvangiaipham
4. https://dotchuoinon.com/2011/04/10/v%E1%BB%A5-nhan-van-giai-ph%E1%BA%A9m-t%E1%BB%AB-goc-nhin-c%E1%BB%A7a-d%E1%BA%A1i-ta-cong-an-bai-chu%E1%BA%A9n/
5. http://www.vinadia.org/nhan-van-giai-pham-thuy-khue/
6. http://www.xuanduc.vn/2015/10/lat-lai-vu-nhan-van-giai-pham.html
7. http://vnthuquan.org/truyen/truyen.aspx?tid=2qtqv3m3237n3n2n0n31n343tq83a3q3m3237n1n3n&AspxAutoDetectCookieSupport=1
8. http://thuykhue.free.fr/tk04/nhanvan.html
9. http://www1.rfi.fr/actuvi/articles/121/article_6594.asp
10. https://www.youtube.com/watch?v=c4zat5-E-J4

Thứ Tư, 15 tháng 3, 2017

NHÂN VĂN - GIAI PHẨM: NHỮNG NHẦM LẪN CỦA GIỚI NGHIÊN CỨU VỀ MỘT PHONG TRÀO SÁNG TẠO CỦA NHỮNG VĂN NGHỆ SĨ TRƯỚC NĂM 1975 Ở MIỀN BẮC.

1. NGỘ NHẬN CỦA GIỚI TRẺ VÀ NGƯỜI NGOÀI CUỘC

Cũng như những bạn trẻ khác, đã là người học văn và tìm hiểu nhiều về nền văn học nước nhà, ai cũng sẽ bị cuốn hút bởi cái cụm từ: Nhân Văn - Giai Phẩm. Thực tế cho thấy những văn nghệ sĩ cộng sản khi nhắc tới cụm từ này phần lớn đều e dè, một vài người mạnh bạo thì thể hiện sự nối tiếc, xót xa. Nối tiếc vì các văn nghệ sĩ nhóm Nhân Văn - Giai Phẩm đều là những người đã có những thành tựu nhất định, hơn thế, có những người đang nắm giữ các trọng trách, vị trí, chức vụ quan trọng ở các cơ quan văn hóa, nghệ thuật của cộng sản. Vậy vì cớ gì mà tất cả họ bị đánh án, có người bị đưa ra xét xử, những người nhẹ hơn thì bị cô lập, gây khó khăn trong cuộc sống, buộc thất nghiệp, lưu đày... Tất cả những điều đó tạo cho Nhân Văn - Giai Phẩm một lực hút đối với những người nghiên cứu văn học nghệ thuật, đặc biệt là những người dám đi vào tìm hiểu những vụ việc được xem là án phản động, có tư tưởng chống đối, phản động chống chính quyền cộng sản, không được cộng sản và chính quyền của nó thừa nhận, ngược lại bị lên án, trù dập và cách ly với xã hội, với giới văn nghệ sĩ.

Những vùng tối cùng với phiên tòa xét xử nhóm nhân văn đã dập tắt gần như hoàn toàn mọi ý định khám phá vụ việc này. Có lần, ở một quán nét gần khu vực trường Đại học KHXH&NV Hà Nội, tôi có hỏi một cô sinh viên ngành xã hội& nhân văn về nhóm này, cô ấy cho biết: theo thầy cô và những người lớn thì Nhân Văn - Giai Phẩm là những người phản động và bị kết án phản động, và vì vậy họ không quan tâm. Bạn nữ sinh viên còn nói thêm: tôi có thể tìm kiếm thông tin trên mạng và vào trang Wikipedia để tìm hiểu về Nhân Văn - Giai Phẩm, thông tin khá đầy đủ. Tôi hỏi thêm: cá nhân bạn nghĩ thế nào về Nhân Văn - Giai Phẩm. Bạn sinh viên trả lời: trong xã hội này thì đã là án chính trị và xét xử rồi thì không còn phải bàn cãi gì nữa, và không đáng để quan tâm. Bạn ấy thắc mắc vì tôi tìm hiểu vụ việc này, bạn bảo thầy cô và những người trong lĩnh vực này mà bạn quen biết khuyến cáo bạn nên tránh xa. "Nhưng dù thế nào thì những người trọng vụ việc Nhân Văn - Giai Phẩm cũng là đáng quý, vì họ dám thể hiện mình, dám chống lại những sự bó buộc, rào cản của chế độ".

Tôi vờ hồn nhiên hỏi: bạn không thấy thầy cô và những người khác khuyên nên tránh xa Nhân Văn - Giai Phẩm, và không nên đi vào vết xe đổ của họ à. Một loạt những tiếng lao xao, nhiều bạn nữ khác lên tiếng ủng hộ cô bạn ngồi bên tôi, đang bị tôi tranh thủ phỏng vấn! Tất cả các bạn trẻ cho biết họ đều muốn như Nhân Văn - Giai Phẩm, được như Nhân Văn - Giai Phẩm, và mong có những người như vậy ở hiện tại. Sự việc và cuộc trao đổi, test xã hội với các bạn sinh viên trong quán Nét diễn ra vào khoảng năm 2006, 2007. một không khí có vẻ như cởi mở hơn cả bây giờ, chúng tôi trao đổi khá thoải mái, và các bạn sinh viên cũng mạnh dạn bày tỏ quan điểm của mình rất chân thực, thẳng thắn và cũng rất thoáng. Thể hiện một khát khao đổi mới, phá rào, đột phá, thèm một sự tự do thực sự.

Cũng chính nhờ những cuộc trao đổi như vậy mà tôi biết đến Wikipedia, đến những trang mạng có đăng tải nội dung về Nhân Văn - Giai Phẩm và nhiều những vụ việc khác.

Bỏ qua những tìm hiểu xã hội, tạm thời rời mạng ảo và các lời khuyến cáo của các giảng viên, các lão thành trong lĩnh vực văn học nghệ thuật, tôi lặng lẽ kiếm tìm những nguồn tư liệu khác: những chứng nhân lịch sử của vụ việc, những người tham gia, đi cùng và nắm chắc các diễn biến của vụ việc. Công việc thầm lặng, những nhiều niềm vui, vui nhất là khi các bạn nữ sinh viên ngỏ ý muốn tôi - một người xa lạ, quen tình cờ trong quán nét, nhưng đã tìm hiểu Nhân Văn - Giai Phẩm thì chắc không phải là người ngoài giới văn học nghệ thuật, do đó các bạn mong tôi cũng như những người đã học hành xong cái bậc đại học, hãy dấn thân và đấu tranh cho họ. Vâng niềm vui nhỏ khi nghĩ, có lúc nào đó mình được chia sẻ những tìm hiểu, những suy nghĩ và nhất là cung cấp những sự thật về vụ việc vốn bị dấu kín, không được công bố và ít ai biết tới.

May mắn là khi tôi tiếp cận vấn đề, tìm hiểu nó và đề nghị những người tôi có quen cũng cấp thông tin, sự kiện và diễn biến vụ việc Nhân Văn - Giai Phẩm cũng là khi mà bầu không khí xã hội ở Việt Nam đã cởi mở và thông thoáng hơn nhiều. Tất nhiên, hàng loạt vấn đề tồn nghi vẫn cần được lý giải, khai phá và đa ra công luận. Đó là một thuận lợi lớn, và thuận lợi hơn là những người tôi tìm đến đều không ngại ngần khi đề cập tới nó như những người khác.

Trở lại  với cái đề mục: ngộ nhận của giới trẻ và những người ngoài cuộc - vâng, đã có một vụ án, một phiên tòa xét xử, rất bất công, và đó là một vụ án theo kiểu cách mạng văn hóa mới, kiểu hậu cách mạng văn hóa. Và do đó, Nhân Văn - Giai Phẩm nhận được nhiều sự thương cảm, nhất là giới trí thức, các văn nghệ sĩ tỏng và ngoài nước, nhưng không mấy ai biết tới cái thực chất, bản chất của vụ việc Nhân Văn - Giai Phẩm, không mấy tư liệu, công trình, chương trình báo chí hay cả những cuốn sách chuyên về Nhân Văn - Giai Phẩm cũng chưa cung cấp những thông tin cơ bản, quan trọng nhất về vụ việc. Do đó, tôi dùng chư Ngộ Nhận. Vì tất thảy chỉ thấy yêu, thương, đồng cảm, lên án phiên tòa, đấu tranh với bất công và áp bức, đày đọa mà các văn nghệ sĩ, trí thức phải chịu khi tham gia và thực hiện Nhân Văn - Giai Phẩm. Không ai biết rằng, về bản chất, vụ Nhân Văn - Giai Phẩm không góp phần nhiều cho những tiến bộ của trí thức, của sáng tạo văn học nghệ thuật, của tự do dân chủ và nhân văn, của công bằng và bác ái.

Người ta thấy Nhân Văn - Giai Phẩm dám đi ngược hay chống đảng cộng sản như bản án mà đảng cộng sản đã tuyên trong phiên xét xử nên thầm ngợi ca họ, mà không biết được rằng, về bản chất, đó là một sự chống đối, hay tranh chấp quyền lực nội bộ chính quyền cộng sản, nó không thực sự góp phần thúc đẩy cho tiến bộ của dân tộc. Đó là những điều dẫn tới việc tôi đặt cái đề mục như trên. Giải thích nó cũng chính là đã phần nào làm sáng rõ đôi nét về bản chất của vụ việc. Tôi sẽ lần lượt cung cấp các dẫn chứng và tư liệu để khẳng định những kết luận nói trên về Nhân Văn - Giai Phẩm trong phần sau của bài viết này.

Khi tôi viết những điều như trên, có ai đọc đến và tự hỏi: liệu tôi có đang tạo dựng lịch sử của vụ việc không? Hình như vụ việc đang được diễn giải không như người ta nói, vẫn tưởng về nó. Vâng, tôi muốn đặt một dấu chấm hết cho vụ việc, làm sáng tỏ nó ở những vấn đề bản chất nhất. Có như vậy, những hoài nghi, nhưng vùng tối và đặc biệt, sự kỳ vọng mà các bạn trẻ đặt vào tôi mới được đáp ứng. Tôi cũng hy vọng, khi sự thật được phơi bày, nó giản dị, ngắn gọn, nhưng là sự thật và mong rằng nó được chấp nhận, sẽ không có những cá nhân, tổ chức cố tình xuyên tạc sự thật sau khi tôi công bố bài viết này một cách đầy đủ. Trước đã có sự việc như vậy nên nay tôi nhân tiện nói luôn và để mọi người, những ai quan tâm hiểu là nó cũng không đơn giản, có những cá nhân, tổ chức sẵn sàng dùng trang web, báo chí khi cần để làm cho vụ việc trở nên mờ mịt, phủ nhận những sự thật. Và cái trọng tâm, cái thực chất là muốn Chiêu tuyết, muốn làm cho Nhân Văn - Giai Phẩm trở nên đẹp đẽ và đáng yêu, đáng kính.

Vài nét sơ lược nhưng cũng đủ để hiểu vì sao giới bất đồng chính kiến, nhiều nhà văn, nhà báo hải ngoại đã viết về Nhân Văn - Giai Phẩm, họ thấy có sự tương đồng, nhưng bản chất khác nhau nhiều, có một số giống, khi đó là những cán bộ cộng sản trốn ra nước ngoài. Còn về cơ bản, khi biết thực chất vụ việc, thì người ta hiểu, Nhân Văn - Giai Phẩm không liên quan gì tới giới trí thức, văn nghệ sĩ nước ngoài ở cái khía cạnh là đổi mới, là đấu tranh cho tự do, dân chủ và tiến bộ. Ở đây tạm nhìn cái khía cạnh tốt đẹp của giới văn nghệ sĩ hải ngoại khi họ thành lập các trang web và thực hiện các bài viết về những vụ việc nổi cộm trong nước.

Và, khi đã nhắc tới bộ phận hải ngoại, tôi không thể không nói ngay là cũng có những nhầm lẫn, ngộ nhận của bộ phận văn nghệ sĩ hải ngoại về Nhân Văn - Giai Phẩm như giới trẻ và người ngoài cuộc trong nước mà tôi đã trình bày ở trên. Tôi nhớ, đã trao đổi với một vài phóng viên của BBC, có nói họ nên làm lại Nhân Văn - Giai Phẩm, viết theo cái hướng tôi đã nói ở trên, tư liệu thì phải tự tìm vì lúc đó tôi đnag ở trong nước, khó khăn trong việc hỗ trợ họ, tôi lúc đó chưa ra khỏi đảng. Và thực tế, chương trình của BBC về Nhân Văn - Giai Phẩm đã chân thực hơn, gần hơn với những gì tôi sẽ chia sẻ ở đây.

Bài viết này không phải là làm lại những gì người ta đã làm, có nhắc tới những điều đã biết cho hệ thống, nhưng sẽ cung cấp đầy đủ và chân thực về vụ việc.

2. BỐI CẢNH XÃ HỘI CỦA PHONG TRÀO NHÂN VĂN - GIAI PHẨM
(CÒN NỮA)

Thứ Ba, 8 tháng 11, 2016

NHÀ THƠ MÀU TÍM HOA SIM - MỒ HÔI VÀ NƯỚC MẮT ĐÁ (1)

(Trân trọng giới thiệu bài viết của tác giả Đỗ Hoàng về nhà thơ Hữu Loan, một tài năng bị vùi dập dưới chế độ cộng sản, bài viết được đăng tải nguyên văn từ facebook của tác giả Đỗ Hoàng, nick của tác giả bài viết ở phía dưới.
Do Hoang
NHÀ THƠ MÀU TÍM HOA SIM - MỒ HÔI VÀ NƯỚC MẮT ĐÁ (1)

ĐÕ HOÀNG

Tôi vào Đồng Nai tháng 8 năm 1987 sang năm 1988 tôi được kết nạp là hội viên Hội văn học Nghệ thuật Đồng Nai.Tháng 6 năm đó Hội mở trại sáng tác văn học Long Hải –Bà Rịa (lúc này Bà Rịa đang thuộc Đồng Nai).
Về dự trại là niềm vui lớn của anh em văn nghệ vì họ được viết được giao lưu gặp gỡ làm quen anh em bạn bè. Ở trại này ngoài những bậc đàn anh kính thân biết trước như nhà văn Hoàng Văn Bổn, Lê Huy Khanh anh em bạn hữu như: Nguyễn Thái Hải (Khôi Vũ), Đàm Chu Văn, Cao Xuân Sơn, Nguyễn Đức Thọ, Lê Đăng Kháng , Phạm Thanh Quang, Hoài Tố Hạnh... tôi còn được quen thân thêm Trương Nam Hương, Nguyễn Hoài Nhơn, Nguyệt Cầm…Anh Hoàng Văn Bổn, Đàm Chu Văn, Khôi Vũ, Cao Xuân Sơn... đã tận tình giúp đỡ tôi những ngày tha phương cầu thực Đa phần các cây viết ngày ấy đều đã trở thành hội viên Hội nhà văn Việt Nam. Và thật may mắn trong đời tôi tôi được gặp nhà thơ lừng danh: Màu tím hoa sim – Hữu Loan! Tôi không thể nào diễn tả nổi cảm mến kính phục của mình trước một bậc thật tài thật nổi tiếng mà cũng thật chua chát đớn đau trước nghịch lý của đời!
Tôi nhớ khi lên Biên Hoà thì xe của Hội chở anh em sáng tác đã đi rồi tôi đành nhảy xe đò xuống Long Hải. Khoảng chập choạng thì về đến nơi anh em tay bắt mặt mừng hỏi han đủ chuyện và kéo nhau đi ăn cơm.Thật là những bữa ăn ngon mà những người làm mướn như tôi không thể thưởng được.

Lúc về phòng viết tôi đi ngang qua phòng khách thấy một ông lão dáng người tầm thước mảnh mai tóc trắng như cước xoã ra hai bên thái dương. Người ấy đang đưa nhẹ hai tay vuốt cho hai mái tóc chảy xuôi. Dưới ánh nê-ông trắng bạc trông ông như một ông tiên trong truyện cổ tích của trẻ em.Tôi tự lẩm bẩm: Tiên lão có tướng thật đẹp và nghĩ chắc là các bậc trưởng lão của tỉnh hay của Trung ương đến an dưỡng ở đây.
Định bước đi thì Đàm Chu Văn, Cao Xân Sơn, Nguyễn Đức Thọ, Trương Nam Hương, Hoài Tố Hạnh, Nguyệt Cầm gọi với ra bảo tôi vào chơi.

Nguyễn Đức Thọ giới thiệu đây là nhà thơ Hữu Loan. Ôi nhà thơ Hữu Loan! Người vừa đứng ở phòng khách là ông đấy ư? Tôi ngắm nhìn nhanh ông. Ông năm ấy cũng đã 70 tuổi rồi nhưng trong ông còn nhanh nhẹn nhẹ nhàng không như nhiều người ở vào độ tuổi ông thương run rầy mỏi mệt. Tôi khẽ khàng chào ông và ngồi xuống cùng bạn bè nghe ông trò chuyện. Từ bé tôi đã nghe danh nhà thơ Màu tím hoa sim. Bây giờ được gặp ông tôi thật xúc động. “Màu tím hoa sim “ mẹ tôi và các anh chị trong làng tôi thường hay hát bài hát này cùng với các bài “Đêm đông” “Hồn vọng phu” “Tiêu tương” . Sau này học lên và qua chuyền tay tôi có dịp đọc và thuộc bài thơ Màu tín hoa sim.: “Ngày hợp hôn nàng không đòi may áo mới. Tóc nàng chưa kìn búi Em ơi lần cuối…Nàng có hai người anh đi bộ đội .. Được tin em gái mất trước tin em lấy chồng”…Không chết chàng trai khói lửa mà chết em gái nhỏ hậu phương!”Thuở bé tôi chưa hiểu được nội dung và mỹ nhạc nhưng tôi cũng như bao người đều bị cuốn hút từ trong tâm linh bài thơ được phổ nhạc.Tuy các anh chị phải hát chui nghĩa là không được hát trên loa phóng thanh hát giữa hội nghị nhưng rồi ai cũng thuộc ai cũng hát. Khi nhập ngũ xung phong tham gia cuộc kháng chiến chống ngoại xâm của đân tộc tôi càng thấm thía cái bất tử của thi phẩm. Dù phải qua bao thăng trầm vì sự hiểu biết hạn hẹp của con người nhưng những giá trị nhân văn đích thực thì dân tộc nâng niu và chấp nhận.Tôi đồng cảm và hiểu được lòng nhân đạo nhân ái vượt qua nhận thức thời đại của nhà thơ! Hữu Loan không chỉ nổi tiếng với “ Màu tím hoa sim” nhà thơ còn có “Đèo Cả” “Người không chết” viết về tướng Nguyễn Sơn. “Một đám tang đi. Đi không bao giờ đến huyệt”. Hữu Loan không viết nhiều.Trong đời thơ dài như vậy ông có chừng trên dưới 30 bài thơ đựoc in nhưng sức nặng và tiếng vang của nó thì những nhà thơ nghìn bài cũng phải nể trọng! Bây giờ tôi đã được gặp nhà thơ ngoài đời thật. Tôi kính cẩn đến bắt tay và chào nhà thơ.Ông nắm chặt tay tôi. Bàn tay ông cứng chắc và thực là gân guốc khác hẳn với dáng dấp tiên phong đạo cốt của ông. Ông vẫn tươi cười rạng rỡ còn tôi thật bồi hồi xúc động trước một kỳ nhân mà sao chân tình giản dị dễ cảm mến ngay vừa gặp gỡ! Trừ nhà văn Hoàng Văn Bổn còn tất cả anh em chúng tôi lúc đó chưa ai thành danh mà sau này có chút tên tuổi văn chương thì làm sao so được với “Màu tím hoa sim”! Mà Hữu Loan cũng chưa nghe tên ai trên văn đàn trong đám chúng tôi. Thế nhưng ông vẫn đối đãi với chúng tôi như những thi hữu bằng vai bằng lứa.Tôi nghĩ vui và cũng vinh dự cho đến bây giờ: là Trại sáng tác văn nghệ Long Hải được khai mạc từ lúc cuộc tiếp xúc với nhà thơ Hữu Loan. Đêm ấy thực sự là đêm thơ văn nghệ Đồng Nai. Sau khi tôi Cao Xuân Sơn Đàm Chu Văn Nguyễn Đức Thọ Trương Nam Hương Hoài Tố Hạnh Nguyệt Cầm đọc thơ…là đến lượt đại thi nhân Hữu Loan đọc thơ và nói chuyện thơ. Ông đọc nguyên bản bài thơ “Màu tím hoa sim” mà không có sách báo nào lúc ấy in đúng như ông sáng tác. Ông đứng lên giữa cử toạ. Dù đây chỉ là cuộc tao ngộ ngẫu hứng. Giọng ông đọc thơ vang và khoẻ mang nặng âm sắc tiếng Thanh Hoá không pha trộn. Trước khi nói hoặc khi đọc ông đều đưa tay vuốt hai mái tóc bạc như cước cho ngay ngắn rồi mới cất giọng. Lúc này tôi mới nhìn kỹ ông. Tại sao một con người tài ba đỗ tú tài Tây toàn phần khi cách mạng thành công ông giữ chức bốn Ty trưởng mà toàn những Ty có chữ như: Ty Giáo dục Ty Tuyên truyền Ty Canh nông Ty Văn hoá mà cuộc đời ba đào làm vậy? Thời điểm ấy và cả ngay bây giờ ít người tin vào tướng số tử vi nhưng nhìn ông tôi thấy ông cũng bị nhân tướng học chi phối. Ông có trán rộng nhưng hơi thấp hàm én ngang tàng nhưng cằm ngắn. Mái tóc nhô ra giữa đỉnh trán thành hình chữ V thì không thể hanh thông trên đường hoạn lộ. Nhưng bù lại giữa hai lông mày của ông được đóng chữ Xuyên và có một nét lớn dài như vành trăng khuyết giống như dấu trên trán Bao Công tỏ rõ ông là người kỳ tài và trường thọ!

Sau cuộc hội ngộ giữa các anh chị hậu sinh với lão thi nhân thì hầu như lúc nào rảnh viết chúng tôi đều tụ tập đến ông hầu chuyện. Ông đủ khối chuyện. Chuyện nhà thơ Trần Mai Ninh, Hoàng Lộc, Trần Hữu Thung, Hoàng Cầm, Trần Dần, Lê Đạt ,Phùng Quán, Trương Tửu, Nguyễn Mạnh Thường…Hay nhất là chuyện Trương Tửu hầu rượu Tản Đà. Sau này Trương Tửu có viết về việc này và trở thành một tư liệu quí về đại thĩ sỹ Nguyễn Khắc Hiếu và thứ nữa là chuyện thi sỹ Hoàng Cầm diễn vỡ kịch Kiều Loan của mình mà lấy được người đẹp. Buồn nhất là Lê Đạt. Anh em cho nhà thơ này là lá mặt lá trái. Có người viết Lê Đạt “ Con cú đội lốt lông công đêm đêm ngồi trên ghế đá” ( Nhân văn – Giai phẩm trước toà án lương tâm – Nhà xuất bản Sự Thật năm 1958) . Lê Đạt cùng một số người tham gia tán kích bài thơ “Chiếc bình vôi” đả kích lãnh tụ: “Có người sống lâu trăm tuổi/ Ì như một chiếc bình vôi/ Càng sống càng tồi/ Càng tồi càng Bé! nhưng sau này Lê Đạt quay lại làm thơ ca ngợi lãnh tụ. Có câu được Hội đồng thơ Việt Nam lấy làm thơ hay nhất thả lên trời trong ngày Hội thơ Xuân năm Bính Tuất – 2006:“Những lời thơ hay nhất là viết về Bác Hồ”.
Hữu Loan có sự đánh giá khá chính xác thơ ca kháng chiến chống Pháp. Đấy là cuộc cách tân mạnh dạn và thành công. Không kể các bậc khai quốc công thần nền văn nghệ kháng chiến thì những tên tuổi như :Trần Mai Ninh Hữu Loan Hoàng Lộc Trần Hữu Thung Hoàng Trung Thông Chính Hữu…có vị trị xứng đáng trong nền văn học cách mạng! Biết tôi có dịch thơ Đường ông khen tôi dịch bài “Chiến Thành Nam” của Lý Bạch có hai câu xuất sắc là: “ Rửa gươm trong sóng bể dâu Ngựa ăn cỏ máu tận đầu Thiên Sơn”. Ông bảo thơ Đường là đỉnh cao của thơ ca Trung Quốc và cũng của nhân loại. Không nhà thơ Việt Nam nào không học thơ Đường không ảnh hưởng Đường thi! Rồi ông đọc bài thơ ông dịch “Tương tiến tửu” của Lý Bạch. Bài thơ dịch sát với nguyên bản và giữ đúng hình thức trong nguyên văn. Tôi còn nhớ mở đầu Lý Bạch viết: “Quân bất kiến! Hoàng Hà chi thuỷ thiên thượng lai”. Hữu Loan dịch:“Thấy chăng ai! Dòng nước Hoàng Hà từ trên trời chảy xuống!” Đó cũng là một bài dịch thành công của Hữu Loan.
Đàm đạo tâm tình với Hữu Loan tôi mới biết đời ông thực sự trầm luân sau vụ Nhân văn- Giai phẩm. Ông thì không bị liên luỵ và hệ luỵ gì như các bậc đàn anh khác nhưng với tính khí cương cường thẳng thắn trung thực ông ghét cay ghét đắng đám hãnh tiến xu thời nhân cớ dậu đổ bìm leo bán rẻ bạn bè để mưu cầu lợi ích cá nhân. Với lại người đời chưa hiểu hết sức nghĩ sức cảm trong “ Màu tím hoa sim” vu cho ông hết tội này đến tội khác ông chán đám quan tham ô lại ông phủi tay không bỏ về quê thồ đá nuôi vợ con!
Kể đến năm 1988 ông đã có thâm niên hơn 30 năm thồ đá. Một vóc dáng thư sinh như ông mà làm cái công việc của lực điền trong hơn 30 năm quả là một việc hi hữu. Nhưng đám trương tuần hương vệ đời mới có để cho ông yên thồ đá kiếm sống đâu. Khi thì chúng xầm xì: quân Nhân văn - Giai phẩm khi thì chúng hỏi giấy tờ gốc chuyển về. Không có giấy tờ dù ở giữa bổn quán chúng vẫn nói ông là dân lậu. Chúng không cho ông nhập khẩu dài dài. Ngay bây giờ không có hộ khẩu đã khó sống huống hồ thời ấy huống hồ người có dính líu đến Nhân văn – Giai phẩm và có bài thơ nhạc vàng!
Ông đau xót kể lại: “ Có một lần mình thồ đá dọc bờ sông Mã đám công an xóm đến hạch sách mình. (Hồi ấy và cho đến năm 2004 công an địa phương chưa có sắc phục riêng như bây giờ nên không dễ phân biệt với người thường). Chúng nó bảo:- Cho xem giấy tờ?
Mình quát: -Tôi người làng đây giấy tờ gì!
Chúng bảo: - Vẫn biết ông là người làng nhưng ông bỏ làng bao nhiêu năm ông làm gián điệp cho Mỹ –Diệm thì ai biết!
Tôi tức quá tôi chưởi: - Mồ cha chúng mày chúng mày nhìn ai cũng là gián điệp cả!
- Không gián điệp thì cũng Nhân văn –Giai phẩm Nhạc vàng còn hơn cả gián điệp! - Chúng xỉa xói.
- Bọn mày chưa vỡ bọng cứt mà đã học đòi tố láo! Gọi cha mày ra đây!- Tôi chưởi lớn.
Thế là chúng xông vào đánh tôi nằm bẹp trên mặt đê còn hai sọt đá chúng xô xuống sông!
Bài học vỡ lòng chua chát ấy tôi khắc ghi khi trở lại sống ở bổn quán. Cuộc sống thôn dã cũng có nhiều mặt tốt của nó nếu như dân trí được nâng lên và tình thương cao hơn. Còn với dân trí thấp bạo lực lộng hành thi sống ở thôn dã quả là rùng rợn. Tôi biết những kẻ thừa hành công vụ cũng chỉ là người ngu tối. Vì những ngày đó có nhiều kẻ làm to gầp nhiều lần công việc của tôi mà nhận thức xã hội học lực văn hoá còn quá yếu huống gì đám trương tuần dân quân du kích công an xóm công an xã. Đến như tôi tôi cũng chưa hiểu nhân văn giai phẩm sai lầm ở chỗ nào và bài hátMàu tím hoa sim nhạc vàng ở đâu huống gì người mù chữ.
Thật ra trong nhiều anh em mà đời gọi họ là Nhân văn –Giai phẩm họ là những con người tốt muốn đất nước mình tiến nhanh hơn cuộc sống tươi đẹp hơn chống bạo quyền chống tham ô lãng phí. Khi tôi bỏ về quê tôi đã biết có nhiều người vì quá cực đoan mà vu oan cho họ.
Còn đối với tôi chưa bao giờ tôi nghĩ Màu tím hoa sim là thơ vàng hay nhạc vàng gì cả. Đây là bài thơ hoàn toàn riêng của tôi tôi viết cho người vợ hiền thảo của mình chết còn quá trẻ. Người thật việc thật chi tiết nào trong bài thơ đều cũng là sự thật. Đến như sự mất mát hy sinh cũng là sự thật nữa là. Vợ tôi tên là Lê Đỗ Nhật Ninh khi cưới tôi thì hai người anh trai của nàng là bộ đội đang chiến đấu ở vùng Đông Bắc không về dự cưới em gái được. Đám cưới kháng chiến mà nhà tôi cũng khó khăn nên nàng đã phá vỡ tục lệ là không may áo cưới. Đúng thật trăm phần trăm như vậy. Còn nàng ở hậu phương lại bị chết còn tôi người lính xông pha lửa đạn thì không chết. Cuộc chiến tranh xảy ra ở đất nước ta nó dữ dội là vậy và sự thật là vậy có gì khác nữa.!
Thời điểm năm 1988 không được như bây giờ nhưng cũng hơn vạn lần thời Hữu Loan bỏ về quê thồ đá. Màu tím hoa sim tuy không được phổ biến nhưng người ta cũng không nặng nề nữa. Xã hội đã có cái nhìn cỡi mở. Điều ấy cũng là may mắn cho Hữu Loan và nhiều người như ông.
Hữu Loan ở trại sáng tác Long Hải đến ngày thứ năm tôi mới biết ông đến dự trại cũng với “tư cách” chui. Nghĩa là không phải tiêu chuẩn hội viên Hội văn nghệ tỉnh Đồng Nai cũng không phải khách mời của Hội văn nghệ hay là của Tỉnh! Lúc này nhiều người như ông cũng chưa được phục hồi Hội tịch. Tức là danh hiệu nhà thơ chưa được Nhà nước công nhận. Nhân dân công nhận mà Nhà nước chưa công nhận thì đi dự trại sáng tác của Hội văn nghệ địa phương cũng không có tiêu chuẩn . Lúc này cả nước đang đói to .Lương cán bộ chỉ sống khoảng dăm bảy ngày gạo rất hiếm người ta phải bán bo bo thay gạo.Ở Nam bộ có đỡ hơn ngoài Bắc nhưng cũng không thể phóng khoáng mời tất cả anh em văn nghệ sỹ dự trại được. Khi tâm tình tôi hỏi nhà thơ vào du lịch Nam bộ do ai cho giấy mời thì Hữu Loan nheo mắt cười khỉnh :
- Ma nào nó mời tớ có hai đứa con trai là thợ xẻ chúng nó vào
Nam bộ đi xẻ thuê tớ bám vào luôn.
- Bác thì như vậy còn con cái bác có sao không? -Tôi tò mò hỏi.
- Tôi có đứa con gái học giỏi lắm thi đỗ đại học nhưng trên cũng chỉ cho đi dạy cấp hai. Đám con trai lớn thì như vậy đấy.
Nghe ông kể t ôi rưng rưng nước mắt. Đến con chó nó cũng được du lịch vũ trụ còn nhà thơ tài danh của mình theo con tha phương cầu thực!
Ông sống được nhiều ngày ở Nam bộ là nhờ được hai người đẹp mến mộ tài danh ông là Hoài Tố Hạnh và Nguyệt Cầm. Hai nữ sỹ đầy nghĩa hiệp mời ông về nhà chăm lo ăn ở cho ông mấy tháng trời. Nguyệt Cầm thì tôi không biết nhà riêng và chưa được mời về nhà nhưng Hoài Tố Hạnh thì tôi được Hạnh mời về nhà riêng ở lại lúc tôi đang lang thang cơ nhỡ tại Biên Hoà. Đó là một buổi chiều đẹp nhưng tôi lại rất buồn vì tiền đã hết mà việc không xin được. Ông Phó Tổng biên tập Đài Phát thanh Đồng Nai nói rằng: “Đài rất cần người Nam bộ rất thiếu cán bộ nhưng nhận cán bộ là phải qua Ban Tổ chức tỉnh và phải có hồ sơ chuyển đến đầy đủ chứ không nhận tay ngang”. Hoài Tố Hạnh lúc này đang làm phóng viên cho Đài phát thanh Đồng Nai thấy tôi đang lang thang cô bảo tôi về nhà nghỉ rồi sáng mai đi tiếp. Tôi đã nhờ Hạnh viết giáy bảo lãnh cho tôi thay chứng minh thư để bảo đảm an ninh mà địa phương cư ngụ của Hạnh yêu cầu. Tôi được Hạnh cho ăn cơm và tối đó được ngủ riêng tại nhà Hạnh.Tôi nghĩ chỉ những người bỏ quê kiếm sống mới có những nghĩa cử vượt qua nếp thường như vậy và đẹp như vậy..Tôi là người con trai đã có vợ con Hạnh lúc đó là gái chưa chồng. Tôi hết sức trân trọng cảm kích sự cưu mang của Hạnh .
Với Hữu Loan Hoài Tố Hạnh và Nguyệt Cầm cũng cưu mang như vậy!
Khi họ đi dự trại văn nghệ tỉnh họ kéo ông đi theo luôn.Tôi đồ rằng nếu không có cuộc cãi vã to tiếng giữa hai người đẹp vì Hữu Loan thì chắc rằng nhà thơ cứ yên tâm dự trại cho mãn khoá. Nhưng tối thứ năm xui xẻo ấy hai nữ sỹ lại túm tóc lôi áo nhau ra giữa hội trường của nhà sáng tác mà thượng cẳng chân hạ cẳng tay cảnh giống hệt cảnh trong tranh đánh ghen dân gian. Hữu Loan đứng giữa hai ngưỡi phải khóc và nói thơ hoà giải:” Đừng ghét nhau chóng già Hãy thương yêu nhau như ngày qua!”
Ông giữ tay hòm chìa khoá lo ăn uống cho trại sáng tác thì không thể “nghệ sỹ” mãi được cái gì đến thì nó đến. Nó đến thì Hữu Loan phải ra đi .Sáng ngày thử bảy Hữu Loan phải ôm gói trái bưởi lên đường. Anh em thương lắm nhưng không làm gì được. Lúc này lại nhớ đến bài thơ “Mưa thu làm tốc mái nhà” của Đỗ Phủ học Đỗ Phủ ước có nhà nghìn gian để che cho vạn hàn sỹ trong thiên hạ đang cơ nhỡ.
Đêm trước khi chia tay anh em đến với ông rất đông. Tôi cũng được cùng anh em lại hầu chuyện Hữu Loan. Ông chép thơ ông vào sổ tay nhiều người bạn.Tôi cũng được ông chép một bài hiện còn trong sổ tay ở quê nhà . Bài thơ có tựa đề là “Lời cây gỗ vuông.”. Chữ ông nghiêng nghiêng kiểu chữ người học trước cách mạng tháng Tám nét hơi to nhưng dễ đọc. Tôi nhớ mấy câu kết như thế này:
“Tôi cây gỗ vuông chành chạnh suốt đời.
Lăn long lóc
Chân tín đấy!
Mặc rìu bào phó mộc!
Rồi ông ký cẩn thận và viết cho tôi thêm một vài lời:
“Chép tặng Đỗ Hoàng - Một người có tâm mà tôi tin tưởng sau này!”
Sáng chia tay nhà thơ lại là một sáng rất đẹp. Biển Long Hải nắng nôi tràn trề cây cối giữa mùa mưa lá nõn non xanh bất tận. Bà Rịa như một cõi Bồng Nhược . Và cảnh trời nước như thế này thì chỉ có lên Niết Bàn mới xứng đáng. Đâu phải sự chia ly đói nghèo với nhà thơ kính yêu đã và đang chịu khổ nạn!
Hữu Loan vẫn măc bộ áo quần nâu cố hữu tay cầm bọc áo quần gói bằng tấm ni long đã ngã màu vàng úa chân đi dép tông gót dép đã mòn như lưỡi dao cạo đầu không đội mũ. Chiếc mũ cói rộng vành ông treo hờ sau lưng trông như tráng sỹ Kinh Kha vượt sông Kinh Dịch báo thù cho chủ. Mái tóc bạc như cước nổi bật giữa vạt nắng vàng là không lẫn vào cảnh vật cỏ cây lúc này. “Tráng sỹ bạch đầu bi hướng thiên . Hùng tâm sinh kế lưỡng mang nhiên “(Người tráng sỹ bạc đầu buôn rầu ngẫng nhìn trời. Chí lớn và đương ống hai cai đều mờ mịt). Tuy hình hài bên ngoài trông quá trần ai như vậy nhưng dáng dấp ông vẫn toát lên sự cao thượng vẫn xứng với phong cách đạo cốt tao nhân mặc khách. Cảnh chia tay diễn ra trong sự buồn thương bi hùng.
Hữu Loan đi đã khuất sau các trảng đồi bát úp nhưng mái đầu bạc của ông như vẫn còn trước mặt chúng tôi. Biển Long Hải vẫn xô vào bờ từng đợt sóng bạc trắng như tóc của thi nhân . Bất giác tôi nhớ lại bài thơ “Bên sông tiễn Hạ Chiêm “của Đỗ Phủ viết gần hai nghìn năm trước:
“Bi quân lão biệt lệ triêm cân.
Thất thập vô gia vạn lý thân.
Đãn kiến chu hành phong hựu khởi.
Bạch đầu lãng lý bạch đầu nhân!”
Tạm dịch:
Thương anh già cả lệ trào.
Mái nhà không có sống sao giữa đời?
Con thuyền ngọn gió chia phôi.
Bạc đầu sóng bạc đầu người ra đi !
Hà Nội 12-8-2005